Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
tin tức sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
Could not find the specified library component: Nav_doanh nghiep
 
du khách
Skip portletPortlet Menu
 
 
liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Giới thiệu tiềm năng (15/08/2012 03:36 PM)

Kỳ Sơn là huyện miền núi cao, biên giới phía Tây  tỉnh Nghệ An. Thời nhà Trần gọi là đất Nam Nhung, thời vua Lê Thái Tông (1434-1442) gọi là phủ Trà Lân gồm 4 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Vĩnh Khang, Hội Ninh. Huyện Kỳ Sơn từ Cửa Rào trở lên giáp Lào, tên huyện Kỳ Sơn có từ đó. đến đời Gia Long (1802-1819), năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi tên phủ Trà Lân thành phủ Tương Dương gồm 4 huyện, trong đó có huyện Kỳ Sơn gồm 4 tổng.


Ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ công hòa chia phủ Tương Dương thành 2 huyện Tương Dương và Con Cuông. Ngày 17/5/1961, Hội đồng Chính phủ có Quyết định 65/CP tách huyện Tương Dương thành 2 huyện mới: Huyện Kỳ Sơn có 8 xã và huyện Tương Dương có 9 xã. 


Đến nay, huyện Kỳ Sơn có tổng diện tích tự nhiên 209.484,04 ha; Có 20 xã, 1 thị trấn và 195 khối, bản. Tổng dân số 72.321 người (tháng 5/2012), có 5 dân tộc anh em cùng chung sống hòa thuận, đoàn kết, đó là: Dân tộc H’Mông chiếm 36%, Khơ Mú chiếm 32%, Thái 27%, Kinh, Hoa chiếm 5%.


Là nơi khởi nguồn của dòng sông Lam với hai nhánh sông Nậm Mộ và Nậm Nơn, chiều dài của 2 con sông này chảy qua địa bàn huyện hơn 125 km. Ngoài hai dòng sông chính, Kỳ Sơn có hàng trăm khe suối to nhỏ như Khe Nằn, Khe Chảo, khe Ca Nhăn, Huồi Pà, Huồi Nhị, Huồi Lội, Huồi Giảng là những thế mạnh trong việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ. Hiện nay các công trình thủy điện đã, đang và sẽ khởi công xây dựng như: Thủy điện bản Cánh, Nậm Mô 1, Nậm Mô 2, Ca Nan 1, Ca Nan 2, Nậm Cắn, và thủy điện Mỹ Lý trên dòng Nậm Nơn với công suất lắp máy 280 MW, điện lượng 1,12 tỷ KWh/năm, tổng mức đầu tư dự kiến là 7.000 tỷ đồng. Đây là một trong những thủy điện lớn còn lại trên lãnh thổ Việt Nam.

 

                                                                                 

                               Thượng nguồn sông Nậm Nơn


 Là huyện vùng cao, Kỳ Sơn có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế rừng. Toàn huyện có 59 nghìn ha rừng, chiếm 28% diện tích tự nhiên với nhiều loại động thực vật phong phú và quý hiếm. Riêng về thực vật đã phát hiện được 12 họ gồm gần 150 loại cây có giá trị kinh tế cao, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: Đinh hương, pơ mu, sến, táu mật, gội nếp, lát, chò chỉ, sa mu dầu… đặc biệt Kỳ Sơn còn có rừng thông tự nhiên ở Na Ngoi, Mường Típ và nguồn dược liệu thiên nhiên phân bố rộng, số lượng lớn gồm ngũ da bì, sa nhân, đẳng sâm, thiên niên kiện, thổ phục linh. Trong rừng có nhiều loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam như: Báo, mèo rừng, sóc bay, lợn rừng, gấu, sơn dương…


Kỳ Sơn có nhiều loại khoáng sản như: Vàng phân bố ở một số nơi dọc sông Nậm Mộ trong trầm tích bở rời của bãi bồi cao, hàm lượng vàng trung bình 0,18-0,7 gam/m3. Ngoài ra còn có mỏ than ở Na Loi, Nậm Cắn, Phà Đánh, mỏ thạch anh, thạch cao ở các xã tây bắc của huyện, mỏ đá vôi ở Mường Lống, Mỹ Lý, Bắc Lý, Nậm Cắn, Đọoc Mạy.


Cộng đồng dân cư ở Kỳ Sơn có nhiều dân tộc có truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm và đoàn kết, gắn bó cùng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng ấm no, phát triển. Các dân tộc Thái, H’Mông, Khơ Mú đã tạo nên những nét văn hóa riêng: Người H’Mông có gạo tẻ, súng săn, dao đi rừng tự rèn đúc theo bí quyết cổ truyền, có văn hóa múa khèn, đàn môi, ném còn; Người Khơ Mú với sáo 4 lỗ; Người Thái có nghề dệt thổ cẩm truyền thống từ bao đời nay vẫn tiếp tục được gìn giữ và phát huy nhất là ở các bản như Bản Na, bản Xốp Thặp (xã Hữu Lập), bản Nọong Dẻ (xã Nậm Cắn), bản Na Khướng (xã Na Loi), bản Piêng Phô (xã Phà Đánh), bản Cầu Tám (xã Tà Cạ).

                   


Thiếu nữ Thái bản Na, xã Hữu Lập bên khung cửi


Huyện Kỳ Sơn với nhiều di tích lịch sử, tiêu biểu như Đền Pu Nhạ Thầu (xã Hữu Kiệm), đền thờ Cây Đa (hay đền thờ ông Đức Thánh - xã Tà Cạ) là chốn linh thiêng, nơi nhân dân các dân tộc gửi gắm tín ngưỡng, tâm linh. Mấy năm gần đây, huyện đều đặn tổ chức lễ hội vào dịp đầu xuân thu hút hàng vạn du khách gần xa đến tham quan.

 

                   


 Điệu múa Sạp tại lễ hội Pu Nhạ Thầu

 

Kỳ Sơn có lợi thế trong phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch với cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn và quốc lộ 7A - một đầu mối giao thông quan trọng kết nối các huyện Tây Nam Nghệ An với một số tỉnh nước bạn Lào. Mỗi năm có khoảng 15.000 lượt người và phương tiện xuất nhập cảnh quả cửa khẩu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 50 triệu USD.

 

                     


Thông thương qua Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn  

 

Trên con đường hội nhập và phát triển, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn đoàn kết, chung sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, coi nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, phát triển nông - lâm nghiệp là cơ sở hàng đầu. Các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện của địa phương được nhân rộng và đã phát huy được hiệu quả như: Chăn nuôi bò, gà đen, lợn đen ngày càng có giá trị kinh tế cao; cây chè Tuyết San ở Huồi Tụ từ mô hình của Tổng đội thanh niên xung phong nay đã được nhân dân trồng đồng loạt theo hướng chuyên canh sản xuất hàng hóa; các mô hình trồng gừng, dong riềng ở Na Ngoi, Đọoc Mạy, mận Tam Hoa ở các xã Mường Lống, Tây Sơn, trồng lạc ở Na Loi, Bắc Lý, Hữu Lập đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế và xóa nghèo bền vững.

 

                    

                                                             

            Huyện Kỳ Sơn vinh dự đón nhận danh hiệu “Anh hùng LLVT”

 

Là một trong ba huyện nghèo nhất của tỉnh Nghệ An, trong những năm qua, nhờ các chính sách đầu tư phát triển lớn của Đảng và Nhà nước như: Chương trình 30a, 135, 167, xây dựng Nông thôn mới, huyện Kỳ Sơn đã có bước phát triển khá, cơ sở hạ tầng ngày một hoàn thiện trong đó: 100% các xã đã có đường ô tô đi vào trung tâm, các trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang, kiên cố, hệ thống điện lưới đang được tiếp tục kéo vào các xã vùng sâu, xa. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ trên 90% năm 2010 xuống 72,5%  năm 2011.


Văn phòng  HĐND-UBND huyện

 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
 
<<   <  1  >  >>  
 
 
 
các sở, ban, ngành
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu